Trang chủ > Tản mạn > Truyện ngắn: Cái ngày xưa

Truyện ngắn: Cái ngày xưa

⁃ Em đưa chị ra đảo nhé, ngày xưa anh ấy muốn chị ra chơi mà chị sợ, không dám đi.

⁃ Vâng. Ra đảo dễ mà chị, em chạy ra đó chưa hết 30 phút đâu.

⁃ Ừ, bây giờ có cầu, đi lại cũng tiện. Chứ ngày xưa…

Không biết đã bao lần chị nhắc đi nhắc lại cái cụm từ “cái ngày xưa” mỗi lúc tôi đưa chị đi thăm thú nơi này nơi khác. Giọng chị nhỏ lắm, tôi vốn đã phải cố gắng để lắng tai nghe rõ những lời chị nói mà đến lúc chị nhắc đến “cái ngày xưa” thì giọng chị lại càng trầm xuống hơn. Chẳng biết việc chị nhắc đến “cái ngày xưa” nhiều lần thì tốt hay xấu, nhưng về sau cũng tốt với tôi vì chị nhắc nhiều quá mà tôi đã có thể nghe được rõ hơn. Giọng chị lúc ấy trầm, mà buồn lắm. Vì phải chú ý quan sát dòng xe cộ nên tôi không thể nhìn rõ khuôn mặt chị lúc đấy ra sao, nhưng tôi đoán, nó chắc phải buồn lắm. Buồn như chính giọng chị mỗi lần nhắc đến “cái ngày xưa”.

Tôi được giới thiệu với chị thông qua một người quen bán hàng ở chợ. Họ bảo, có một người mới sang, muốn nhờ em đưa đi thăm quan thành phố vài ngày.

Tôi là một thằng nghiên cứu sinh nghèo, gom góp mua được một con Toyota số sàn được sản xuất cách đây 25 năm (mà tôi vẫn gọi là Rô-xi-nan-tê) để thi thoảng chạy mấy cuốc cho bà con ngoài chợ người Việt. Sáng sớm chạy cho mấy mối quen từ nhà ra chợ, chiều đến lại đưa họ từ chợ về nhà. Mỗi cuốc được hơn trăm rúp, hôm nào trời mưa tuyết thì có thể được cho thêm vài đồng. Thi thoảng cũng có người cần đi khám bệnh, đi lấy hàng thì tôi cũng chạy. Những mối đấy cao hơn, nhưng cũng không nhiều. Cũng chỉ đủ bù thêm vào số học bổng ít ỏi để cố duy trì cho đến lúc học xong mà về nước thôi.

Thế nên, gặp khách bao trọn mấy ngày là “ngon” lắm.

Thành phố này nhỏ, có khách sạn Hyundai là sang nhất. Chị ở đó.

Vào sảnh khách sạn, tôi khá e ngại khi xung quanh toàn những xe đắt tiền. Hơn nữa, gặp chị lại thấy đây có vẻ là một người có tiền. Chị tầm 50 tuổi, ăn mặc sang trọng, gương mặt khá phúc hậu nhưng đôi mắt thật buồn. Buồn đến mức mà khi nhìn vào đó, có lẽ người đối diện cũng bị ngập trong cái nỗi buồn miên man. Thậm chí, mấy thằng hít bóng cười xong mà nhìn vào đó chắc cũng tỉnh luôn, cái chất Dinito monoxit cũng phải bay sạch khỏi cơ thể để mà rũ xuống.

Tôi ái ngại, hết nhìn chị rồi lại nhìn con Rô-xi-nan-tê cũ nát của mình. Tôi không hiểu là do ánh mắt của chị hay do sự tương phản giữa khách hàng và con ngựa già của tôi nữa.

Hình như hiểu được nỗi băn khoăn của tôi, chị cười, nhẹ nhàng bảo: “Cứ đi thôi em. Xe cộ không quan trọng. Bạn chị bảo em quen thuộc thành phố này. Thế là được rồi. Tiền nong chị trả đầy đủ. Nếu em thấy chưa ổn thì chị gửi thêm. Đây, em cứ cầm lấy trước một ít để lo xăng dầu”.

Có lẽ nhờ những tờ đô la Mỹ mới cứng, cũng có lẽ là từ nụ cười của chị, mà cũng có thể là cả hai đã khiến tôi mạnh dạn mở cửa, dẹp bớt món sách vở vẫn mang theo để cố gắng sắp xếp cho chị chỗ ngồi rồi đưa con ngựa già rời khách sạn.

Hai ngày đầu, tôi đưa chị đi những nơi mà khách du lịch vẫn thích đến. Đỉnh Funhikiler, Quảng trường trung tâm, Bảo tàng tàu ngầm, Ga đường sắt, Cảnh biển, Ngọn hải đăng… Tôi cố gắng tỏ ra mình là một tour guide không chuyên nhưng cũng có hạng, cố gắng giới thiệu, giải thích thật nhiều, cố để cho chị thấy rằng số tiền chị bỏ ra là không hề phí. Mà cũng có thể vì tôi sợ chị không vừa lòng rồi lại rút về số tiền đang nằm im trong túi tôi, số tiền đủ để tôi yên ổn ngồi trong ký túc xá cày cái luận án trong vòng hai ba tháng hoặc có thể đưa Hoa (cô bạn gái tôi đang thích mà chưa dám ngỏ lời) đi xem phim 3D và ăn Sushi một lần.

Nhưng rồi tôi hụt hẫng. Những nỗ lực không biết mệt mỏi, những lời nói thao thao bất tuyệt của tôi như hòn đá nhỏ rơi tõm vào hồ nước, thậm chí không gợn lên một làn sóng nhỏ.

Chị im lặng.

Đi đâu chị cũng im lặng. Đôi mắt buồn của chị vẫn nhìn xa xăm, thi thoảng xen lẫn tiếng thở dài nhè nhẹ “cái ngày xưa…”.

⁃ Em đưa chị ra đảo nhé!

Con ngựa già lại nỗ lực gồng lên đạt đến tốc độ bảy mươi kilomet một giờ. Thằng tour guide không chuyên lại thao thao bất tuyệt – để ra đảo thì mình sẽ phải đi qua cầu Rusky, nó có tên này vì nó là cầu nối giữa đất liền với đảo Rusky, cầu dài ba ngàn một trăm mét, khi mới xây dựng thì khoảng cách giữa hai nhịp cầu là dài nhất thế giới…

⁃ Ừ, chị biết.

Lần đầu tiên chị nói với tôi như thế. Đây là câu nói đầu tiên chị giao tiếp với tôi như vậy ngoài mấy câu đơn giản như “mình đi thôi”, “mình về thôi”…

Cái câu “ừ chị biết” như bẻ gãy được cái chốt để mở ra cánh cửa tâm hồn chị.

⁃ Ngày xưa anh có kể với chị. Cái ngày xưa…

Lại là “cái ngày xưa”. Chẳng lẽ tôi lại kêu lên, chị ơi, chị làm ơn đừng lôi cái ngày xưa của chị ra được không? Em nghe nhiều quá rồi.

Nhưng rồi lại thôi. Không phải tôi lịch sự gì. Chạy xe đưa chị đi chơi cả ngày tôi cũng mỏi mệt lắm, mỗi “cái ngày xưa” của chị càng làm tôi thấy đuối thêm. Nhưng mấy tờ đô la trong túi lại giúp tôi củng cố nghị lực để chặn không cho những lời kêu ca có điều kiện thoát ra ngoài. Sức mạnh của những đồng đô la và cái viễn cảnh được tập trung ngồi viết luận án một thời gian hay có thể giúp tôi đủ can đảm để thổ lộ tình cảm với Hoa đã khiến tôi im lặng, nó cũng đã giúp chị cất lời sau mấy ngày im lặng, thở dài sau cái cụm từ quen thuộc “cái ngày xưa”…

Chị cũng đã từng sống ở thành phố này hơn mười năm trước, từ cái thuở mấy khu chợ người Việt còn lụp xụp lắm.

Chồng chị mất sớm, để lại cho chị một mụn con và bà mẹ già. Cuộc sống khó khăn khổ cực, chị nhắm mắt theo người quen sang đây. Bước đầu là bán hàng thuê cho người ta, rồi dần dà gom được ít vốn mở quán ăn phục vụ bà con.

Chị nấu ăn ngon có tiếng, nhất là món phở gà. Điều kiện thiếu thốn nên gia vị không đủ nhưng do khéo léo chế biến mà quán ăn của chị được cả khách Tây lẫn khách ta ưa chuộng. Quán ăn lụp xụp nhưng lại luôn đông khách.

Chị gặp anh cũng tại quán ăn này.

Anh làm xây dựng, cũng theo bạn bè sang đây cũng mong một ngày kiếm được lưng vốn rồi về. Nhưng những khó khăn về kinh tế khiến cái lưng vốn của anh cứ trồi lên trụt xuống mãi, chưa kể những lần chủ thầu lừa gạt không trả lương, anh em thợ lại phải trích ra nuôi nhau. Phiêu bạt khắp nơi, nay Vla, mai đi Na-khốt, có lúc lại làm ngay Chôm nhưng có khi lại chạy tận U-su. Cái nghề xây dựng là vậy, ở đâu có công trình là đi.

Nhưng dù có đi đâu chăng nữa, cứ mỗi tháng anh lại về đây một lần để ăn phở. Anh bảo, cái vị phở chị nấu nó ngấm rồi, khó quên lắm.

Mỗi lần anh về, chị lại cố gắng làm một tô phở thật ngon, ưu ái thêm chút thịt gà nhiều hơn. Lâu lâu chị lại ngóng, gần một tháng rồi, anh có về không? Có con gà ngon đã mua mấy hôm, chẳng biết anh có về để còn mổ.

Bạn bè anh cũng nhận ra điều gì đó từ chị, cũng trêu anh. Mỗi lần như thế, chị vừa xấu hổ vừa thấy vui vui. Nhưng anh chỉ cười hiền. Rồi một lần, anh bảo “Anh có vợ rồi”.

“Anh có vợ rồi. Cô bạn cùng làng”. Anh chỉ nói thế.

Có những lúc, nỗi buồn đến sầm sập rồi biến đi rất nhanh, như cơn mưa dông mùa hạ. Nhưng có những lúc nó nhẹ nhàng đến, rồi sầm xì, dai dẳng mãi không thôi.

“Anh có vợ rồi”.

Lời nói của anh như một cơn mưa tuyết nhè nhẹ, từ từ làm nguội trái tim của chị. Rồi cơn mưa tuyết ấy không dứt, dần phủ kín không gian, đưa cả thế giới vào mùa đông băng giá lúc nào không ai hay.

Rồi chị giật mình, phát hiện ra những mảnh băng giá ấy đang ghim dần vào trong trái tim chị. Chúng cứa, chúng cắt như những cơn gió lạnh ở cái nhiệt độ có khi đến âm bốn mươi độ xê vẫn cắt trên da thịt chị mỗi ngày đông. Chị có thể chống lại được giá lạnh cắt da cắt thịt ngày đông, nhưng làm sao để chống lại những mảnh băng sắc đang đâm vào trái tim cô độc của chị?

Một chiều đông tuyết rơi nhiều, anh ghé quán. Chị vẫn làm cho anh bát phở ngon nhất. Anh bảo, giờ anh làm luôn ở Vla, ngay ngoài đảo thôi chứ không đi đâu nữa. Họ đang xây dựng một khu lớn lắm, rồi sẽ làm cao tốc, xây cầu ra đảo. Vụ này lớn, chắc anh sẽ kiếm đủ tiền gửi về cho vợ đi chữa bệnh, cho thằng con đi học lấy một cái nghề đàng hoàng để sau này đỡ phải phiêu bạt như bố nó.

Ăn vội bát phở rồi anh lại đi ngay, để kịp bắt chuyến phà cuối ngày về đảo.

Chị nhìn anh, muốn giữ. Rồi lại thôi.

Đang lúi húi dọn hàng, chị nghe tiếng lục cục ở cửa. Anh quay lại, tuyết phủ trắng người.

⁃ Tuyết to quá, xe buýt không chạy được nên anh cũng chẳng kịp phà.

Chị luống cuống, không biết nói sao. Anh cũng đứng im, mặt hơi cúi, tay vò vò chiếc mũ lông.

⁃ Ấy – chị giật mình – anh vào trong này đi. Chết cóng bây giờ.

Từ luống cuống, chị lại trở thành một cô bé con, lăng xăng chạy vào lấy khăn để anh lau mặt.

⁃ Thôi, anh cứ ở đây đã, xem tình hình thời tiết thế nào. Mà… có lẽ chẳng về đảo được đâu. Tuyết rơi dầy, đường xá rồi cũng tắc hết, làm sao mà đi nổi. Để em dọn qua chỗ này rồi làm cho anh cái gì ăn tạm cho ấm.

Anh ngồi lặng im hút thuốc, cũng không nói gì.

Anh cứ ngồi vậy cho đến khi trên chị đã bày ra trên bàn mấy món. Cũng là đồ ăn còn lại trong ngày, thêm một chai rượu vodka có đồng xu bạc. Chị biết anh thích loại này nhưng ít uống. Anh không ham uống rượu, một phần cũng là để dành dụm tiền nong.

⁃ Trời lạnh, anh nhấp chén rượu cho ấm. Đồ ăn cũng không còn nhiều…

⁃ Tôi thì có quan trọng gì đâu. Mong tuyết đừng rơi nặng nữa để kịp về kẻo mai anh em làm lại vất vả.

⁃ Thì bây giờ anh cũng có về được đâu. Tuyết trắng trời thế này. Thôi thì anh em biết nhau đã lâu, hôm nay mới có dịp ngồi cùng nhau một lúc.

Cho đến bây giờ chị vẫn không hiểu điều gì đã giúp chị có thể nói ra những lời như thế. Thậm chí, chị còn cùng anh cụng mấy chén liền.

Trong cái buổi tối ấy, khi ngoài trời tuyết đổ trắng xoá và lạnh ngắt, trong quán ăn nhỏ ấm áp, hai con người ngồi đối ẩm. Hai trái tim cô độc trong hành trình viễn xứ, hai thân thể căng tràn sức sống đã tìm đến bên nhau. Và lúc đó, những mảnh băng vẫn găm trong tim chị đã được sưởi ấm, tan ra. Một lần. Duy nhất.

Hết mùa tuyết, xuân sang. Nghe nói người ta đang tích cực đẩy mạnh tiến độ để xây dựng cho kịp tổ chức cái hội nghị gì to lắm. Các bạn anh vẫn ra đây như mọi khi. Nhưng không có anh. Họ bảo, dạo này anh bận nhiều việc, cũng chẳng chịu đi ra ngoài nữa. Sắp thành Rô-bin-sơn đến nơi rồi.

Chỉ có chị hiểu. Nhưng không dám nói ra. Chị cũng không đủ mạnh mẽ để ra đảo thăm anh một lần như cái đêm ấy chị đã hứa. Con người ta có thể vượt núi, vượt sông. Giữa anh và chị chỉ cách một chuyến phà. Nhưng chị không vượt qua được. Nó còn có một cái gì đó, mảnh lắm, nhỏ lắm nhưng cũng to lắm. Chị mấy làn muốn vượt. Nhưng lại thôi…

Dù hè sắp sang, nhưng những mảnh băng trong trái tim chị lại dần kết tủa, lại bắt đầu đè ép lên từng nhịp thở của chị mỗi lần chị nhớ đến anh, nhớ đến cái đêm bão tuyết trong cái quán nhỏ này. Chị vẫn mong một ngày nào đó anh lại xuất hiện. Sẽ có gà ngon để làm cho anh bát phở đặc biệt nhất.

Cuối cùng thì anh đã xuất hiện. Nhưng không phải bằng xương bằng thịt, không phải trực tiếp mà gián tiếp qua một phong thư và ít thông tin từ bạn bè anh: anh đã ra đi sau một tai nạn trên công trường, nơi người ta sắp tổ chức cái hội nghị gì to lắm. Anh còn kịp viết cho chị vài dòng trước khi mất:

“… anh biết tình cảm của em, anh cũng biết con tim anh muốn gì, nhưng có những thứ mà anh không thể vượt qua được, hoặc chúng ta không thể vượt qua được…”

Ôi, cái ngày xưa…

Tôi cố tình căng mắt ra, giả vờ chú ý quan sát xe cộ xung quanh. Nhưng thực tế là để lảnh tránh, để khỏi phải nhìn thấy chị. Mỗi lần chị nói “cái này xưa” chắc nó đã buồn lắm rồi. Sau câu chuyện này, chắc cái câu đấy nó làm chị phải buồn đi gấp vạn lần, nó dày vò, giằng xé chị dữ lắm.

Tôi sẽ cố gắng đưa chị về gặp lại anh của ngày xưa, sẽ cố gắng để hàng ngày nghe chị nói “cái ngày xưa” để giúp chị. Việc đó cũng là để giúp tôi một lần mạnh mẽ trước mặt Hoa-của-tôi, để sau này con tôi cháu tôi không phải nghe bố hay ông chúng nó mỗi ngày lại rên rỉ: Cái ngày xưa…

Bình luận qua Facebook

About mrzes

Có thể bạn quan tâm

Lịch sử “cưa bom” tại DVFU đã kết thúc?

Đầu năm học 2013-2014, những sinh viên đầu tiên từ Việt Nam đã cập bến …

Để lại phản hồi

Your email address will not be published. Required fields are marked *