Trang chủ > Tư liệu > CẢ và TẤT CẢ

CẢ và TẤT CẢ

Từ điển Hoàng Phê 1995 định nghĩa: cả: có số lượng thành phần ở mức tối đa, không sót một thành phần nào, hết thảy; tất cả: từ dùng để chỉ số lượng toàn bộ, không trừ một cái gì hoặc không trừ một ai.
Quả thật, định nghĩa như vậy thì rất khó cho người cần đến từ điển.
Cả và tất cả đều là lượng từ không xác định, nhưng có sự khác biệt rất rõ.

CẢ

Cả biểu thị toàn bộ cái đối tượng theo sau nó với tư cách là một thực thể nguyên khối.

Một thực thể nguyên khối nghĩa là

(i)                 một đối tượng nào đó được xem là một “đơn vị” duy nhất, nhưng trong nó phải hàm chứa nhiều bộ phận, thành phần khác nhau (chẳng hạn: “người” bao gồm nhiều bộ phận – tay, chân…; “cuốn sách” bao gồm nhiều phần, nhiều chương, nhiều trang; “chương sách” bao gồm nhiều trang, v.v.), hoặc nó có thể “phân chia” một cách tự nhiên thành nhiều phần hay khối lượng nhỏ hơn (“chai rượu”, “cái bánh”, “tô phở”, “buổi chiều”, “đêm”, “khu rừng”, “làng”, “nhóm”, v.v.);

(ii)               hoặc một đối tượng nào đó là một tập hợp gồm nhiều bộ phận, thành phần nhưng được xem là một khối duy nhất (chẳng hạn “gia đình” gồm nhiều thành viên; “trường gồm nhiều lớp, nhiều học sinh, giáo viên; v.v.)

nhưng ở cả hai trường hợp cả chỉ quan tâm đến toàn khối chứ không quan tâm đến các bộ phận, thành phần (trong đối tượng hay trong tập hợp).

Vd:

Nó đá bóng cả buổi chiều nên bây giờ đau cả người.

??Nó chơi bóng chuyền nên đau cả ngón tay.

(Ông ơi, ông đau ở đâu?) Ông đau cả cái lưng.

Tôi xem cả bộ sưu tập rồi.

??Tôi xem cả bức ảnh đó rồi.

Nó uống cả chai rượu.

Nó thức cả đêm.

Nó bỏ vào miệng cả cái bánh.

Nó đi chơi với cả nhóm.

Nó ăn cả cái bánh pizza.

Nó đã đọc cả cuốn sách trong một đêm.

Mấy ngày nghỉ nó đọc cả đống sách.

Cả nhà/gia đình đã đi chơi.

Cả trường được nghỉ một ngày.

Tôi đi cả chợ mà chẳng tìm thấy cái áo đó.

Cả làng biết chuyện đó.

TẤT CẢ

Tất cả biểu thị mọi bộ phận/thành phần (trong phạm vi cái tập hợp được nêu sau nó).

17.  Tôi đã đọc tất cả những quyển sách anh cho mượn.

18.  Tất cả (các) nhân viên phòng hành chính phải mặc đồng phục.

19.  Ngày mai tất cả các trường được nghỉ. (= 421 trường trong thành phố)

20.  Tất cả các cửa hàng/ các chợ không còn bán loại vải đó nữa.

21.  ?Ngày mai tất cả gia đình tôi đi chơi.

22.  *Nó đọc tất cả quyển sách đó rồi.

23.  *Tất cả trường tôi được nghỉ.

Có thể hình dung:

Với Xđơn vị = {x, y, z,…}; CẢ X = [toàn bộ X]

Với Xđơn vị = {1/x, 1/x, 1/x,…}; CẢ X = [toàn bộ X]

Với Xtập hợp = {x, x, x,…}; CẢ X = [toàn bộ X]

Với X = {x, x, x, …};    TẤT CẢ X = [x + x + x +…]

TẤT CẢ các/những x = [x + x + x +…]

Nói thêm:

(1) Có thể thấy sau tất cả phải là một danh ngữ biểu thị một tập hợp nhiều bộ phận/thành phần, nghĩa là danh ngữ đó phải được đánh dấu số nhiều. (Thường có những/các/mọi khởi đầu.) Đây là một đặc điểm mà cả không có.

Ở hai câu sau đây, cả không phải là lượng từ như vừa nói ở trên mà là một phụ từ tương tự như ngay cả, kể cả (biểu thị sự vượt quá mức độ, phạm vi thường được mong đợi).

24.  Tôi đã đọc cả những quyển sách anh cho mượn rồi.

25.  Cả nhân viên phòng hành chính cũng phải mặc đồng phục.

(2) Sau tất cả, nếu là danh từ Hán Việt (2 âm tiết) thì những/các/mọi tùy chọn, vì danh từ Hán Việt có thể được dùng như số nhiều hoặc số ít.

Nếu không có danh từ đơn vị (= loại từ, ví dụ (21)) thì danh từ Hán Việt đó được dùng ở số nhiều (đúng ra là tổng loại); nếu có danh từ đơn vị (cái, con, người, ông, bà, v.v.) thì danh từ Hán Việt đó được dùng ở số ít (= 1 đơn vị), khi đó trước nó phải có những/các/mọi (vd (22)).

 

26.  Tôi quen tất cả bác sĩ ở đây.

Ông ấy cho tất cả sinh viên năm thứ ba thi lại.

27.  Tôi quen tất cả các/những/mọi bác sĩ ở đây.

Ông ấy cho tất cả các/những/mọi sinh viên năm thứ ba thi lại.

Trường hợp này, cả cũng không thể có mặt: do tính chất của danh từ Hán Việt, khi có mặt của cả ngay lập tức danh ngữ theo sau dù có được đánh dấu số nhiều hay không vẫn không được hiểu là một thực thể nguyên khối.

Vì vậy trong hai câu sau đây:

28.  Tôi quen cả (các/những) bác sĩ ở đây.

Ông ấy cho cả (các/những) sinh viên năm thứ ba thi lại.

nghĩa của cả giống ngay cả, kể cả ở ví dụ trên – không phải là lượng từ.

So sánh với hai câu có cả là lượng từ sau đây:

29.  Tôi quen cả bệnh viện / khoa nhi của bệnh viện này.

Ông ấy cho cả năm thứ ba thi lại.

(3) Sau tất cả có thể là một danh từ khối (truyền thống gọi là danh từ như bàn, sách, bò, gà, v.v.) hoặc một danh ngữ đẳng lập (truyền thống gọi là từ ghép đẳng lập) biểu thị tổng loại, nhưng sau cả thì không thể. Cần nhớ: đối tượng theo sau tất cả phải được chỉ định (nghĩa là người nói và người nghe phải biết đang nói về tập hợp sách nào, bàn nào…, chứ không phải là mọi quyển sách, mọi cái bàn có thể có trên thế giới).

30.  Mất tất cả tiền rồi!

Anh định mang theo tất cả sách à?

*Anh định mang theo cả sách à?

31.  Tất cả xe ở đây đều là xe chạy xăng.

Nó cho em nó tất cả sách Toán.

*Nó cho em nó cả sách Toán.

32.  Tất cả quần áo / sách vở / thư từ này là của nó.

*Cả quần áo / sách vở / thư từ này là của nó.

33.  Anh tôi tặng tôi tất cả sách vở / quần áo của anh.

*Anh tôi tặng tôi cả sách vở / quần áo của anh.

(Những câu có cả ở trên, nếu được chấp nhận thì cả là phụ từ chứ không phải lượng từ.)

Tuy nhiên, nếu trước những danh ngữ đẳng lập tổng loại có một danh từ chỉ loại (= loại từ) để “gom” các đối tượng lại với nhau thì có thể dùng cả lượng từ (chứ không dùng tất cả).

34.  Cả đống quần áo / sách vở / thư từ này là của nó.

35.  Anh tôi tặng tôi cả tủ sách vở / quần áo của anh.

36.  Nó làm vỡ cả chồng chén đĩa.

37.  Nó nuôi cả đàn cá.

38.  Nó giận cả đám bạn bè của nó.

(4) Sau tất cả và cả có những yêu cầu khác nhau về cấu trúc danh ngữ khi danh ngữ được đánh dấu số nhiều. Có hai trường hợp:

a.       Khi có những/các/mọi trong cấu trúc danh ngữ thì danh ngữ đó chỉ có thể đi với tất cả chứ không thể đi với cả.

39.  Tất cả các/những môn học này đều vô ích.

*Cả các/những môn học này đều vô ích.

40.  Tất cả mọi người rất quý anh.

*Cả mọi người rất quý anh.

b.      Khi danh ngữ có số từ hoặc khi các danh ngữ ở dạng liệt kê (quan hệ đẳng lập) thì có thể dùng tất cả hoặc cả (ngữ nghĩa hầu như không có khác biệt lớn).

41.  Tất cả ba đứa con của bà đều đã có gia đình.

Cả ba đứa con của bà đều đã có gia đình.

42.  Chị lấy tất cả ba cân thịt này nhé?

Chị lấy cả ba cân thịt này nhé?

43.  Nó ghét tất cả ba môn toán, lý, hóa.

Nó ghét cả ba môn toán, lý, hóa.

44.  Toán, lý, hóa, nó ghét tất cả ba môn đó.

Toán, lý, hóa, nó ghét cả ba môn đó.

45.  Tất cả bàn ghế và tủ giường trong nhà đều mua bằng tiền của chị.

Tất cả bàn, ghế, tủ, giường trong nhà đều mua bằng tiền của chị.

Cả bàn ghế và tủ giường trong nhà đều mua bằng tiền của chị.

Cả bàn, ghế, tủ, giường trong nhà đều mua bằng tiền của chị.

46.  Tất cả đồ ăn và thức uống đều đã được chuẩn bị sẵn.

Cả đồ ăn và thức uống đều đã chuẩn bị sẵn.

Ở đây có hai điều thú vị:

(i)   Sự có mặt của đều là cần thiết để bảo đảm sự có mặt của cả. Hay nói rõ hơn, đều là tác tố có vai trò quy các bộ phận ở chủ ngữ (đề) lại thành một tập hợp/khối. Nếu không có đều, và lại có mặt cũng, thì ngay lập tức cả không còn là cả lượng từ nữa mà trở thành cả phụ từ, giống như ngay cả, kể cả, như ví dụ sau đây:

47.  Cả đồ ăn và thức uống cũng đã được chuẩn bị sẵn.

48.  Cả bàn ghế và tủ giường trong nhà cũng mua bằng tiền của chị.

Cả bàn, ghế, tủ, giường trong nhà cũng mua bằng tiền của chị.

(ii) Khi tập hợp được nói đến bao gồm hai cá thể thì có thể dùng cả chứ không thể dùng tất cả.

49.  *Họ muốn gặp tất cả anh và tôi.

Họ muốn gặp cả anh và tôi.

50.  *Tất cả anh và tôi đều phải gặp họ.

Cả anh và tôi đều phải gặp họ.

51.  *Tôi muốn mua tất cả cái xe đỏ và cái xe vàng.

Tôi muốn mua cả cái xe đỏ và cái xe vàng.

Và đây cũng chính là cái cấu trúc mà các sách dạy tiếng thường đề cập: cả A và B, cả A lẫn B, cả A cả B.

(Chú thích: Có thể xem cả trong các trường hợp (ii) là một dạng trung hòa giữa cả lượng từ và cả phụ từ. Vì vậy, về lý thuyết, tôi ngờ rằng cả lượng từ, cả phụ từ, và cả trong “cả nể”, “cả giận” vốn cùng một gốc. Nhưng đây là một vấn đề khác.)

(5) Khi một danh ngữ không được đánh dấu số nhiều thì tình hình phức tạp hơn.

Về cơ bản, có thể nói một cách đơn giản: sau tất cả là một tập hợp, còn sau cả là một khối. Trường hợp này với cả không có vấn đề, vì có thể giải thích bằng những điều đã nói trên kia (cho nên sau đây chúng tôi sẽ không phân tích thêm). Còn với tất cả có hiện tượng phi chuẩn tắc.

52.  *Hôm nay tất cả quán / tiệm đóng cửa.

*Hôm nay cả quán / tiệm đóng cửa.

53.  ?Hôm nay tất cả cửa hàng thời trang / quán nhậu đóng cửa.

*Hôm nay cả cửa hàng thời trang / quán nhậu đóng cửa.

54.  ??Ngày 20/11 tất cả trường được nghỉ.

Ngày 20/11 cả trường được nghỉ.

55.  ??Mai thi tuyển sinh sau đại học nên tất cả trường được nghỉ.

Mai thi tuyển sinh sau đại học nên cả trường được nghỉ.

56.  ??Mai thi tuyển sinh sau đại học nên tất cả trường đóng cửa.

Mai thi tuyển sinh sau đại học nên cả trường đóng cửa.

57.  ??Mai tất cả gia đình đi chơi.

Mai cả gia đình đi chơi.

58.  ?Mai tất cả gia đình tôi đi chơi.

Mai cả gia đình tôi đi chơi.

59.  Trong thôn này, tất cả gia đình đều có con học đại học hay cao đẳng.

*Trong thôn này, cả gia đình đều có con học đại học hay cao đẳng.

Ở (52), thông thường, không thể tất cả các quán trong thành phố đóng cửa cho nên phải hiểu là một quán, mà một quán thì không thể dùng tất cả. (Cả không dùng được.)

Câu (53) cũng tương tự (52), có điều ngoại diên của “cửa hàng” và “quán” đã thu hẹp hơn. Có lẽ vì vậy có vẻ nghe “được” hơn. (Cả không dùng được.)

Câu (54), liên quan đến ngày lễ cho nên tất cả trường có thể hiểu hoặc “tất cả các trường” hoặc “tất cả các lớp, phòng, ban trong trường” được nghỉ. (Cả dùng được.)

Câu (55) tương tự (54), nhưng “khó nghe” hơn một tí, vì người ta không biết tuyển sinh sau đại học được tổ chức riêng rẽ từng trường hay tổ chức chung. (Cả dùng được.)

Câu (56) có vẻ dễ đoán (?) hơn (50) vì “tất cả trường đóng cửa” thì phải là nhiều trường chứ không thể một trường. Nhưng cái thắc mắc về cách tuyển sinh (chung hay riêng) thì vẫn chưa rõ; tức là vẫn có thể hiểu là “tất cả các lớp, phòng, ban trong trường”. (Cả dùng được.)

Câu (57), về hình thức thì có vẻ ổn, vì tất cả gia đình chắc chắn là “tất cả các gia đình”. Nhưng khó tưởng tượng được tình huống có thể sử dụng câu này (tất cả gia đình nào? ở đâu?). Trong tình huống nào đó, người nói nói về gia đình mình thì ta có câu (58). (Cả dùng được.)

Câu (58) đương nhiên chỉ có một cách hiểu: “tất cả thành viên trong gia đình tôi”. Nhưng rõ ràng cách hiểu này hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố hạn định đứng sau danh từ (“tôi”). (Cả dùng được.)

Tương tự: khi anh lớp trưởng tuyên bố trước lớp “Ngày mai tất cả lớp được nghỉ” thì bất kỳ sinh viên nào cũng hiểu là “tất cả sinh viên trong lớp mình” chứ không thể hiểu, thậm chí không thể ngờ vực, “tất cả các lớp trong trường”. Cách hiểu này hoàn toàn phụ thuộc vào ngữ cảnh.

Câu (59), khác với (57) và (58), chỉ có một cách hiểu duy nhất (“tất cả các gia đình trong thôn này”). Cả thành phần trạng ngữ đầu câu (khung đề) lẫn phần vị ngữ (thuyết) đều phù hợp với mô hình “tất cả X” nghĩa là “x + x + x +…”. (Cả không dùng được.)

Từ các ví dụ và phân tích vừa nêu, chúng tôi cho rằng những cách dùng tương tự như ví dụ (52) – (58) không phải là một cách dùng chỉn chu (= bất chuẩn tắc), vì nó buộc người nghe phải suy nghĩ hoặc hỏi lại để có cách hiểu chính xác (hay nói khái quát hơn, phải nỗ lực rất lớn để tìm kiếm sự quan yếu). Hơn nữa, về mặt ngữ pháp, nếu chấp nhận nó thì sự đối lập giữa tất cả và cả trình bày ở phần trên bị thủ tiêu.

Nếu có ngoại lệ cho cách dùng tất cả thì chỉ có một trường hợp, đó là những câu tương tự (58).

Nhưng hà cớ gì mà không dùng cả để có một phát ngôn chuẩn tắc mà chẳng cần phải “xem xét” gì cả?

(6) Như chúng tôi đã nhắc đến ở các phần trên, cả lượng từ và cả phụ từ tuy có thể cùng gốc nhưng về ngữ pháp – nhất là trong việc dạy tiếng – nên tách ra thành hai mục riêng. Theo đó, cả phụ từ không có liên quan gì đến tất cả nên không cần thiết phải phân biệt với nhau.

Nhân đây cũng xin nói thêm, trong thực tế sử dụng, cả lượng từ khi đứng trước một số lượng nào đó có vẻ như mang nghĩa tình thái (cả X = {[toàn bộ X] + [quá nhiều]}, và thường được xem là “đồng nghĩa” với hàng. Ví dụ:

60.  Mỗi lần đi nhà hàng tốn cả/hàng triệu đồng. Xót quá!

61.  Chị mất cả/hàng mấy triệu đồng cho vụ đó.

62.  Nó lội bộ cả/hàng ngày trời mới đến được làng đó.

Theo chúng tôi, cái cảm giác “nhiều” đó là có thật, nhưng không phải do cả mà là do cái số lượng mang lại. Do vậy, không nên xem đây là một nét nghĩa khác của cả.

(7) Cả và tất cả còn một cách dùng mà chúng tôi không đề cập ở các phần trên. Đó là cả và tất cả được sử dụng như một đại từ. Chẳng hạn:

63.  Tôi còn ba bó. Chị lấy cả/tất cả chứ?

64.  Những người trong nhà đó đi làm xa cả/tất cả rồi.

Chúng tôi cho rằng đây chỉ là một cách dùng phái sinh của cả/tất cả ở trên. Thật ra, nếu xét chặt chẽ thì chỉ có tất cả mới đủ tư cách hành chức như một đại từ.

65.  Tất cả là bao nhiêu vậy chị?

*Cả là bao nhiêu vậy chị?

66.  (Cảnh sát sẽ thẩm vấn ai?) Cảnh sát sẽ thẩm vấn tất cả.

*(Cảnh sát sẽ thẩm vấn ai?) Cảnh sát sẽ thẩm vấn cả.

(8) Trong phương ngữ Nam bộ, hết được xem là tương đương với cả.

67.  Cô giáo sẽ kiểm tra hết lớp.

68.  Nó có thể ăn hết ổ bánh.

69.  Chị mua hết mấy bó rau này giùm tôi nghen?

Tuy nhiên, hết là một trạng từ (phó từ), phạm vi dùng lại hẹp hơn cả (có những trường hợp hết không thể thay cho cả) cho nên vẫn nên ưu tiên cung cấp cả.

Rất cám ơn tác giả Nguyen Pho vì bài viết này. Các bạn có thể xem bài viết gốc tại: http://tiengviet-tv.blogspot.com/2012/03/ca-va-tat-ca.html?spref=fb

Bình luận qua Facebook

About mrzes

Có thể bạn quan tâm

20+1 thư viện điện tử của Nga cung cấp sách miễn phí

Khi đọc bài viết này bằng tiếng Nga (tựa gốc là “20 thư viện điện …

Để lại phản hồi

Your email address will not be published. Required fields are marked *